Hôm nay: 05-09-2010
www.phuninh.gov.vn

Trang thông tin điện tử Huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam

 
Trang chủ
Giới thiệu chung
Tin tức - Sự kiện
Thủ tục hành chính
Du lịch Phú Ninh
Chính sách hỗ trợ
Quy hoạch
Thể thao
Nông nghiệp - Nông thôn
Văn bản pháp quy
Liên kết

 





 

 

 

Văn bản QPPL
Đăng nhập





Lượt truy cập
      Khách: 339561
   Có 5 khách online
VÕ THIẾP - NGƯỜI ANH CẢ CỦA NGÀNH TUYÊN GIÁO QUẢNG NAM
21/07/2010

    Võ Thiếp sinh trưởng trong một gia đình gồm 7 anh chị em vào năm 1924 (Giáp Tý), ở thôn Thị Vạn, xã Chiên Đàn thuộc tổng Chiên Đàn Trung, phủ Tam Kỳ (nay là thôn Vạn Long, xã Tam Đàn, huyện Phú Ninh). Thân phụ là cụ Võ Chí, một hương chức có tinh thần yêu nước. Thân mẫu là bà Võ Thị Thoả người cùng thôn Vạn Long.

Vợ là bà Dương Thị Sàng (1924 - 2005), là con gái ông xã Dần quê quán tại Trường Xuân, huyện Tam Kỳ (nay là thành phố Tam Kỳ), là một gia đình hương chức có truyền thống yêu nước, đã từng nuôi giấu, che chở cán bộ hoạt động cách mạng trong những năm chống Mỹ cứu nước. 7 anh chị em ruột của Võ Thiếp đều tham gia cách mạng thời tiền khởi nghĩa, trong đó người anh trai thứ 2 là Võ Điềm tham gia cách mạng đã hy sinh năm 1947 trong trận đánh Pháp tại cầu Đò Xu (Hoà Vang - Đà Nẵng) đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống gia giáo của quê hương đất học Chiên Đàn. Nếu trong lịch sử Quảng Nam gắn liền với những danh hiệu cao quý như:“Ngũ phụng tề phi”,“Tứ hổ”,“Tứ hùng”,“Tứ kiệt”,“Ngũ tử đăng khoa” thì tổng Chiên Đàn đã góp phần không nhỏ với các tên tuổi không chỉ ở Quảng Nam mà cả nước phải ngưỡng vọng. Đó là cụ Nguyễn Dục, một người thầy dạy vua, thừa đức độ tài năng; cụ Trần Văn Dư, Hội chủ Nghĩa hội Quảng Nam lừng lẫy; cụ Phan Châu Trinh với chủ thuyết Duy Tân… từng nhiều phen làm cho bọn thực dân, phong kiến ngày đêm không yên giấc. Xét về động cơ, cái sự học ở vùng quê này có nhiều điểm khác biệt so với nhiều nơi. Với các nơi khác, người ta coi trọng sự học để “Vinh thân, vì gia” hay để “Hiển danh quan lộ”, còn ở tổng Chiên Đàn, Phú Ninh nói riêng, Quảng Nam nói chung chủ yếu vẫn lấy con đường học vấn để làm lẽ đạo làm người- Đạo học. Quan niệm về học vấn này đã được cụ Phan Châu Trinh kết tinh thành tinh thần “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, sử dụng đạo học để làm người, để giúp nước, cứu dân.

 Là một người con được sinh ra, nuôi dưỡng ngay trên mảnh đất này, với tư chất thông minh, có điều kiện đi học ở nhiều nơi nên đồng chí sớm sớm giác ngộ và ý thức được truyền thống của quê hương. Dưới thời Pháp thuộc, đồng chí cùng các bạn đồng liêu ở Chiên Đàn như: Đống Lương, Đống Ngạc (sau này là Phó Văn phòng Trung ương Đảng- người viết Điếu văn truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh), Nguyễn Lương Duyên, Nguyễn Quế Hương, Võ Ái, Võ Môn (sau này là nhà chiến sĩ cách mạng đã hoạt động bí mật trong chính quyền Ngô Đình Diệm bị bắt đày đi biệt giam tại Côn Đảo)... đã đi tiên phong trong việc bãi bỏ chữ Nho chuyển sang học chữ Quốc ngữ và đồng chí đã thi đỗ sơ học Pháp- Việt. Năm 16 tuổi, đồng chí lập gia đình, lúc này đồng chí đang học tại trường Đồng Khánh (Huế). Năm 1944, đồng chí trở về Quảng Nam học tiếp và đã tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp (bằng Thành chung) tại trường Viên Minh (Hội An), lúc này đồng chí vừa tròn 18 tuổi. Khi đồng chí cùng một số bạn đồng liêu ở Chiên Đàn chuẩn bị lên đường ra Huế học tiếp thì tình hình trong nước đã xảy ra nhiều sự kiện lịch sử trọng đại liên quan đến vận mệnh quốc gia. Ngày 9- 3- 1945, Nhật đảo chính Pháp. Trước thời cơ này, tại chiến khu Việt Bắc, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” kêu gọi toàn dân đứng lên lật đổ chế độ thực dân, phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân. Cả nước lại bước vào thời kỳ sôi động của những ngày tiền khởi nghĩa. Cùng với nhiều địa phương khác trong tỉnh, vào đầu năm 1945, tại Chiên Đàn, tổng Chiên Đàn đã thành lập Ban bạo động, đồng chí đã tham gia vào tổ chức này và được phân công xuống tận các xóm, thôn bí mật tuyên truyền vận động quần chúng chuẩn bị vũ khí tham gia khởi nghĩa. Và cũng trong thời gian này, đồng chí được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng. Trong khí thế cách mạng sục sôi, từ chiều ngày 17- 8- 1945, các địa phương trong tỉnh đồng loạt tổng khởi nghĩa. Tại Chiên Đàn, các đội tự vệ võ trang và quần chúng kéo đến đình Chiên Đàn tuyên bố xoá bỏ chính quyền tay sai thành lập chính quyền cách mạng.

 Cuối năm 1945, đồng chí được đề cử phụ trách Văn phòng - Uỷ viên Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời xã Chiên Đàn. Năm 1946 đồng chí được cấp trên rút về huyện phụ trách Đoàn thanh niên cứu quốc huyện Tam Kỳ. Giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nổ ra khốc liệt, năm 1947, đồng chí được cấp trên điều động qua làm Trưởng ban Thông tin Uỷ ban kháng chiến hành chính huyện Tam Kỳ. Để kịp thời tuyên truyền phục vụ cho cuộc kháng chiến, đồng chí đã sáng tác rất nhiều thơ ca, hò vè và lấy bút dung là Vũ Dương (Vũ là họ ông, Dương là họ vợ) mà mỗi bài thơ là một dấu ấn cụ thể về quê nhà, về bà con làng xóm của mình trong những ngày sôi sục đấu tranh. Trong một lần về thăm nhà, trực tiếp chứng kiến cảnh máy bay ném bom bắn phá quê hương xóm Vạn, đồng chí đã có nhiều sáng tác nói về cảnh quê hương thanh bình bị giặc ngoại xâm tàn phá, trở thành nguồn động viên tinh thần cho nhân dân hăng hái tham gia kháng chiến chống Pháp xâm lược. Năm 1951 đồng chí được cấp trên điều động ra Thăng Bình đảm nhận nhiệm vụ Bí thư Huyện uỷ Thăng Bình. Đến năm 1953, Tỉnh uỷ rút về bổ nhiệm chức Chủ tịch Hội Liên Việt tỉnh và Trưởng ban Tuyên huấn tỉnh uỷ kiêm Uỷ viên Uỷ ban quốc tế và tổ liên hợp thi hành hiệp định Giơnevơ, tỉnh Quảng Nam cho đến hết tháng 7- 1954.

Cuối tháng 6- 1955, đồng chí được tổ chức điều động tập kết ra Bắc. Đầu năm 1956 đồng chí được bố trí giữ chức Trưởng phòng Tổ chức Nhà máy dệt Nam Định. Thời điểm này Chính phủ đang triển khai xây dựng Nhà máy Ắc quy tại Hải Phòng. Để chuẩn bị đội ngũ cán bộ có trình độ năng lực đáp ứng kịp thời khi Nhà máy hoàn thành. Năm 1958 đồng chí được tuyển chọn trong số những cán bộ tiêu biểu ở miền Nam sang Trung Quốc học tập. Sau khi tốt nghiệp về nước đồng chí được bổ nhiệm làm Giám đốc Nhà máy Ắc quy Hải Phòng. Đến năm 1962, đồng chí được điều động sang giữ chức Bí thư- Giám đốc Sở đóng tàu 1- Hải Phòng. Trong 10 năm học tập và làm việc ở miền Bắc, đồng chí đã có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, góp phần đẩy mạnh việc chi viện cho chiến trường miền Nam chống Mỹ cứu nước.

 Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi oanh liệt, buộc thực dân Pháp ký kết hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam . Tuy nhiên, hiệp định ký chưa ráo mực, Mỹ liền nhảy vào xâm lược nước ta, âm mưu chiếm lâu dài miền Nam Việt Nam . Tháng 6 năm 1954, đế quốc Mỹ đưa Ngô Đình Diệm từ Mỹ trở về dựng lên chính quyền bù nhìn tay sai ở miền Nam. Từ Trung ương tới cơ sở, chúng tập hợp bọn phản động, những tên có hận thù với cách mạng để mở các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”, “thà giết nhầm hơn bỏ sót” để hòng tiêu diệt cán bộ nằm vùng, tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa cộng sản, ra sức đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, bọn chúng đã gây ra nhiều vụ thảm sát dã man ở Quảng Nam như Chợ Được (Thăng Bình), Cây Cốc (Tiên Phước), Khánh Thọ, Chiên Đàn (Phú Ninh). Đặc biệt tại Chiên Đàn, trong hai ngày 27 và 28-9-1954 bọn Mỹ- Diệm và Quốc dân đảng đã sát hại dã man hơn 100 dân thường, gây chấn động cả nước. Trước âm mưu thâm độc của kẻ thù, để bảo toàn lực lượng, Đảng ta chủ trương rút vào hoạt động bí mật, cán bộ lãnh đạo của tỉnh được phân công chuyển vùng, thay đổi địa bàn hoạt động. Đồng chí Võ Thiếp được Tỉnh uỷ đưa vào hoạt động bí mật, phân công phụ trách ở hai địa bàn Thăng Bình và Tam Kỳ. Theo các đồng chí lão thành cách mạng ở Chiên Đàn kể lại, thời gian này đồng chí thường cải trang đóng vai người đi buôn, vai quảy đôi gánh đội nón lá đi bộ từ nơi này đến nơi khác, địa điểm dừng chân là các quán mỳ, quán nước ven đường từ An Tân ra Vĩnh An, Bích Ngô, Tam Kỳ, Vân Trai rồi đến Quán Gò, Hà Lam để bắt mối liên lạc với cán bộ hoạt động bí mật, dò xem tình hình địch hoạt động khủng bố để kịp thời báo cáo Tỉnh uỷ cho chủ trương đối phó kịp thời, thu thập thông tin số liệu các vụ khủng bố, đàn áp, thủ tiêu cán bộ và quần chúng cách mạng của bọn Mỹ- Diệm, Quốc dân đảng để làm đơn tố cáo, vạch trần tội ác dã man của chúng, đưa lên phương tiện thông tin đại chúng, Đài tiếng nói Việt Nam, gửi đến kiến nghị tại Uỷ ban quốc tế và Tổ liên hợp đình chiến tại Đà Nẵng, Quy Nhơn.

 Đến năm 1964, lúc này ở chiến trường miền Nam nói chung, Quảng Nam nói riêng đang diễn ra khốc liệt, Ban thống nhất Trung ương quyết định điều động đồng chí trở về Quảng Nam công tác. Tháng 12- 1964, tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VI ở Đồng Linh (Bình Phú - Thăng Bình), đồng chí được bầu bổ sung Tỉnh uỷ viên- Chánh Văn phòng Tỉnh uỷ. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VII- 1967 tại Trà Đốc (Trà My), đồng chí được tái cử Tỉnh uỷ viên. Thời gian này, địa bàn vùng ven, vùng giáp ranh tỉnh lỵ Quảng Tín có vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở cách mạng, phát triển lực lượng vũ trang, chống địch càn quét, bảo vệ thành quả cách mạng, đồng chí được Ban Thường vụ Tỉnh uỷ điều động về làm Bí thư Huyện uỷ Bắc Tam Kỳ (Phú Ninh ngày nay). Với bề dày kinh nghiệm trong công tác tổ chức, sự sáng tạo trong thực tiễn đấu tranh, đồng chí đã tích cực chỉ đạo cho cán bộ, lực lượng vũ trang huyện phối hợp với bộ đội tỉnh, vận động quần chúng nhân dân xây dựng phát triển lực lượng, phát động hàng trăm học sinh trường Nguyễn Văn Trỗi xếp bút nghiên tòng quân vào bộ đội đánh Mỹ, phát động mạnh mẽ phong trào toàn dân bố trận phòng chống địch, xây dựng nhiều tuyến mìn dài hàng trăm mét ở các xã để ngăn địch càn quét vùng giải phóng như Ao Lầy, Chồi Sủng- Kỳ Thịnh, Trung Định- Tam Đàn, Kỳ An, Kỳ Phước, Kỳ Long, Kỳ Quế... Tổ chức lại mạng lưới thông tin liên lạc, tiếp tế lương thực, xây dựng lực lượng hậu cần trong nhân dân để phục vụ cho các đơn vị vũ trang đánh địch, phát động và đẩy mạnh kịp thời các phong trào chiến tranh du kích. Kịp thời tuyên truyền phát động các phong trào điển hình trong nhân dân về sử dụng vũ khí tự tạo đánh xe tăng và máy bay địch... và qua đó đã đem lại những chiến thắng giòn giã tại Kỳ An, Kỳ Phước, Ao Lầy, Cốc Ba Cây (Kỳ Thịnh), Cốc Bà Tỏ (Kỳ Nghĩa) Quán Rường (Kỳ Mỹ), đèo Tư Yên, Ngọc Nha (Kỳ Quế)... Đây là cơ sở, điều kiện để chuẩn bị lực lượng cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968.

 Năm 1969, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII diễn ra tại xã Trà Kót (Bắc Trà My ngày nay), đồng chí tái cử Tỉnh uỷ viên, bổ nhiệm làm Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh uỷ . Đây là giai đoạn khó khăn nhất của cách mạng sau xuân Mậu Thân 1968. Đồng chí đã vận dụng sáng tạo chủ trương của Khu uỷ, Tỉnh uỷ đề ra phương hướng, nhiệm vụ cấp thiết phổ biến cho các địa phương trong tỉnh tập hợp mọi tầng lớp nhân dân vào việc tuyên truyền, phát triển chiến tranh du kích, đẩy mạnh phong trào diệt ác phá kìm giành quyền làm chủ cơ sở, triệt để lợi dụng mâu thuẫn địch, đoàn kết các phong trào thành một mặt trận rộng rãi đấu tranh chính trị của quần chúng đòi lật đổ chính quyền Mỹ-Thiệu. Qua 6 năm lãnh đạo ngành Tuyên huấn tỉnh, đồng chí là một cán bộ lãnh đạo mẫu mực, yêu thương đồng chí, đồng đội, cùng cán bộ ở cơ sở bám trụ vùng giáp ranh với địch, tham gia các chiến dịch chống càn, vượt qua nhiều khó khăn thử thách, làm tốt công tác tuyên truyền góp phần to lớn vào thắng lợi chung của sự nghiệp cách mạng trên mặt trận tư tưởng-văn hoá.

   Năm 1970, Tỉnh uỷ Quảng Nam phân công đồng chí đảm nhận thêm chức vụ Trưởng ban Dân vận Tỉnh uỷ. Năm 1971, đồng chí được điều động về làm Bí thư thị xã Tam Kỳ. Đến cuối năm 1972, bổ nhiệm làm Trưởng ban Tổ chức, Trưởng ban Tuyên huấn, Trưởng ban An ninh tỉnh. Từ ngày 10 đến 30- 3 năm 1973, Tỉnh uỷ Quảng Nam tiến hành tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ IX, nhằm phân tích, đánh giá âm mưu của địch, đề ra nhiệm vụ của toàn Đảng bộ trong giai đoạn tới, đồng chí Võ Thiếp được trúng cử vào Ban thường vụ Tỉnh uỷ giữ các chức vụ: Trưởng ban Tổ chức Tỉnh uỷ, Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh uỷ, Trưởng ban An ninh tỉnh Quảng Nam kiêm Trưởng phái đoàn đàm phán bốn bên về Hiệp định Pari tại Quảng Nam (địa bàn Quảng Tín). Thời gian này đồng chí bắt đầu phát hiện mình bị bệnh, tuy nhiên do bề bộn công việc, điều kiện sinh hoạt khó khăn nên đồng chí nhiều lần hoãn thời gian điều trị bệnh. Theo lời kể bà Phạm Lan Hoa-  (con gái nuôi) lúc này làm phóng viên báo giải phóng Quảng Nam phục vụ chiến dịch Xuân 1975 sau này là phóng viên báo Quảng Nam- Đà Nẵng kể lại: Thấy ông bị đau nhiều, da vàng, sức khoẻ yếu hẳn. Tôi bảo: “Cha nên nghỉ việc ít hôm để đi điều trị bệnh…”.  Ông trả lời: “Mình đã chiến đấu cho đến ngày hôm nay, những ngày này không thể vắng mặt được con ạ! Dù chết cũng phải công tác cho đến ngày toàn thắng. Cha còn cố gắng được, con đừng lo” và đồng chí còn khẳng định đây là trận quyết chiến quan trọng, nó sẽ đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ hơn 20 năm ròng rã đi đến thắng lợi hoàn toàn, đó là ước nguyện lớn nhất của ông trong cuộc đời hoạt động cách mạng.

 Ngày 10-3-1975, chiến dịch Tiên Phước đã hoàn toàn thắng lợi mở toan cánh cửa phía Tây vào thị xã Tam Kỳ. Thời điểm này, Tỉnh uỷ Quảng Nam điều động đồng chí giữ thêm chức Bí thư dân chính Đảng để tập hợp cán bộ chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng Tam Kỳ. Theo lời kể của đồng chí Trần Chí Thành nguyên Tỉnh uỷ viên - Bí thư thị xã Tam Kỳ (1973-1975): Đầu năm 1975, bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng thị xã Tam Kỳ đang đóng ở thôn 7 Kỳ Trà, đồng chí được giao nhiệm vụ đặc biệt quan trọng chuẩn bị các điều kiện lực lượng, địa điểm, bố trí các lực lượng bộ đội sẵn có của địa phương, vận động quần chúng nhân dân ở nội ô Tam Kỳ và vùng ven nhất tề đứng lên khởi nghĩa khi bộ đội chủ lực tiến vào giải phóng thị xã. Chiều ngày 23- 3- 1975, sau khi đi kiểm tra hết các điều kiện chuẩn bị cho chiến dịch, đồng chí đã gặp đồng chí Trần Chí Thành và các đồng chí ở thị xã nghe báo cáo tình hình phân công các lực lượng vũ trang huyện, đội công tác dẫn đường cho các cánh quân, bộ đội chủ lực tiến vào thị xã Tam Kỳ. Trước giờ ra quân, sắp chia tay các đồng chí đồng đội, chuẩn bị bước vào một trận chiến lịch sử của quê hương qua 21 năm trường kỳ gian khổ và hy sinh, trong tâm trạng bùi ngùi, xúc động, đồng chí nghẹn ngào nói: “Trận quyết chiến cuối cùng này ai còn, ai mất...Tôi sợ không còn gặp lại anh em đồng đội như xuân Mậu Thân 1968...” và đồng chí ôm chầm đồng đội như thể truyền thêm niềm tin chiến thắng trước giờ xung trận.

Sáng ngày 24-3-1975, quân giải phóng từ các hướng đồng loạt tiến về thị xã Tam Kỳ. Trên đường hành quân từ thôn 7-Kỳ Trà xuống Tam Kỳ, do bệnh cũ tái phát, đồng chí đã ngã quỵ ngay tại nhà bà Giáo- một cơ sở cách mạng ở gần sân bay Ngọc Bích. Ngay sau đó đồng chí được đưa về điều trị tại bệnh viện Khu (Bắc Trà My) do thời điểm này ta chưa tiếp quản bệnh viện Tam Kỳ. Đầu tháng 4- 1975, đồng chí được chuyển xuống bệnh viện Tam Kỳ. Giữa tháng 4- 1975, đồng chí được chuyển ra điều trị tại bệnh viện Việt - Đức (Bệnh viện C) Đà Nẵng. Đầu tháng 5- 1975, việc chữa bệnh không tiến triển, đồng chí được Tỉnh uỷ gấp rút chuyển ra Hà Nội điều trị tại bệnh viện Việt - Xô. Sau 4 tháng điều trị, mặc dù nhận được sự tận tình chăm sóc, cứu chữa của tập thể y, bác sĩ bệnh viện, sự thăm hỏi ân cần của đồng chí, đồng đội và gia đình. Nhưng do căn bệnh nặng kéo dài nhiều năm, đồng chí đã từ trần vào ngày 22 tháng 9 năm 1975 tại bệnh viện Việt - Xô. Hài cốt đồng chí được an táng tại nghĩa trang Văn Điển (Hà Nội). Năm 1986, hài cốt đồng chí được gia đình và địa phương tỉnh Quảng Nam đưa về cải táng tại nghĩa trang liệt sĩ thành phố Tam Kỳ. 

 Ước nguyện lớn nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng là chứng kiến cảnh quê hương hoàn toàn giải phóng, đất nước sạch bóng quân thù của đồng chí đã được toại nguyện. Tuy nhiên nỗi niềm mong ước thứ hai được về thăm gia đình, thăm bà con làng xóm, thăm mẹ già mòn mỏi chờ tin con và người vợ hiền ở quê nhà sau ngày đất nước được độc lập vẫn chưa thành hiện thực. Ông Vũ Đằng- em trai đồng chí năm nay đã 83 tuổi hiện sinh sống tại quê nhà cho biết: “Chiến tranh dài đăng đẳng, anh Ba cứ đi công tác riết, khi đất nước giải phóng thì anh lại ra đi vĩnh viễn, tội nghiệp cho chị Ba cứ ở nhà chờ ngóng tin mãi đến lúc chết mà chẳng có một mọn con để nương nhờ. Cũng may, hồi kháng chiến anh Ba có nuôi một đứa con nuôi giờ đang sinh sống tại Đàng Nẵng. Nó hiếu thảo lắm, thỉnh thoảng cũng hay về thăm quê nhân ngày giỗ kỵ cha nó”. Người con nuôi ấy không ai khác chính là bà Phạm Lan Hoa, phóng viên báo Quảng Nam Đà Nẵng nay đã về hưu và sinh sống ở Đà Nẵng. Trong lá thư đồng chí viết về cho gia đình vào ngày 29- 3- 1975 mà ông Vũ Đằng đưa tôi xem có những dòng chữ thật cảm động sâu sắc và tình yêu quê hương, gia đình tha thiết “Tôi rất sung sướng cũng như bà con mình rất sung sướng được thấy quê hương tràn ngập ánh nắng của tương lai rực rỡ, tất nhiên còn nhiều ngỡ ngàng, rồi dần dần bà con mình sẽ hiểu ra tất cả những gì quý báu nhất, thiêng liêng nhất đến với quê hương, với xóm làng... bà con làng xóm và gia đình hãy tích cực xây dựng quê hương vững mạnh để xứng đáng với con người mới của thời đại mới”; lá thư thứ 2 “Quê hương đã được giải phóng nhưng tôi còn bận quá chưa về thăm nhà được. Tôi đương lo công tác tiếp quản thị xã Tam Kỳ, công việc còn nhiều, định ít hôm nữa sẽ về thăm mợ (mẹ) nhưng nay tôi bị đau đột xuất, bác sĩ bảo phải đi điều trị gấp, chắc bà con mình ngóng trông, mợ cũng nóng lòng. Nói giùm với mợ tôi xin kính lời hầu thăm mợ, xin hứa một ngày không xa tôi sẽ về thăm mợ...

 Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ, đến ngày quê hương hát khúc ca khải hoàn là lúc đồng chí đã lâm bệnh nặng, kỷ vật luôn luôn gắn bó bên đồng chí trong suốt dặm trường kháng chiến được gửi về gia đình đó  là: “2 quyển thơ Tố Hữu, 1 cuốn Di chúc Bác Hồ, lời kêu gọi của Trung ương Đảng,  điếu văn truy điệu Bác Hồ và 1 cuốn sổ nhật ký ghi chép tài liệu tuyên truyền...". 

 Có thể nói suốt cả cuộc đời, đồng chí Võ Thiếp đã giành trọn cho Đảng, cho Tổ quốc, cho quê hương vì một lý tưởng “độc lập dân tộc, đem lại hoà bình, hạnh phúc cho nhân dân”. Từ một thanh niên trí thức có lòng yêu nước gặp thời buổi nước nhà bị nạn ngoại xâm, theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng đồng chí đã “xếp bút nghiên” lên đường chiến đấu cho đến ngày đất nước nở hoa độc lập. Đó là người chiến sĩ cộng sản kiên cường, dù trong những giai đoạn cách mạng gặp khó khăn nhất, đồng chí một lòng một dạ kiên trung với dân tộc, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc Việt Nam .

 Trong sự nghiệp hoạt động cách mạng, đồng chí Võ Thiếp vinh dự được Đảng và Nhà nước ta trao tặng nhiều danh hiệu cao quý: Huân chương chiến công hạng nhì, Huân chương kháng chiến hạng nhì cho chức danh Giám đốc Nhà máy Ắc quy Hải Phòng vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc, Huân chương giải phóng hạng ba, Huân chương giải phóng hạng nhất, Huân chương giải phóng hạng ba vì đã có nhiều thành tích xuất sắc trong đợt tổng tiến công nổi dậy xuân 1975, góp phần vào công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Huân chương độc lập hạng nhì, Truy tặng liệt sĩ ngày 6-1-1998, Tặng kỷ niệm chương đã có cống hiến vì sự nghiệp tư tưởng - văn hoá của Đảng (8/1/2000).                                                                             

                                                           Huỳnh Ngọc Lâm

 

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 
< Trước   Tiếp >

     Khối Đảng
     Khối Xã
     Khối Quản lý Nhà nước
     Khối Hành chính sự nghiệp
     Khối Nội chính
     Khối Mặt trận và Đoàn thể
Thông tin - Thông báo
Hình ảnh Phú Ninh
 
Truy cập nhanh




Thủ thuật tin học
 

Phần mềm chuyển đổi file Video từ máy quay fim sang file ảnh

Chuyển đổi font chữ và kiểm tra chính tả trong Word

Khôi phục Folder bị ẩn do Virus

Khôi phục dữ liệu bị xóa nhầm

Bài viết mới đăng
Bình chọn
Theo bạn, giao diện website này
 
Thông tin liên hệ

Thông tin liên hệ với ban biên tập website vui lòng liên hệ:

P.VH&TT Phú Ninh

Điện thoại:

05103. 847399

Email:

Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó

hoặc

Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó

VP HĐND-UBND

Điện thoại:

05103. 890879

Fax: 05103. 890879

 

 

 

 

 

Website Huyện Phú Ninh : http://www.phuninh.gov.vn
Bản quyền thuộc UBND huyện Phú Ninh.
Giấy phép số:
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Trụ sở: Thôn 7 - xã Tam Vinh huyện Phú Ninh - tỉnh Quảng Nam
Điện thoại : 051.890879 - Email :  phuninh@phuninh.gov.vn.
Đơn vị thiết kế: Trung Tâm VT-CNTT(QTI), Sở Thông Tin, Truyền Thông Quảng Nam
Hỗ trợ kỹ thuật: 0510.240115, 0510.240114, Fax:0510.3811764
Power by JOS